Độc đáo Lễ hội Căm Nung của người Lự ở Lai Châu

Trong bữa cơm ấm áp tình làng nghĩa xóm tại khu rừng cấm (rừng thiêng) của bản sau lễ cúng, mọi người cùng trao đổi, trò chuyện về mùa vụ tới...

 

Trong bữa cơm ấm áp tình làng nghĩa xóm tại khu rừng cấm (rừng thiêng) của bản sau lễ cúng, mọi người cùng trao đổi, trò chuyện về mùa vụ tới, cách bảo vệ, phát triển rừng và không vi phạm hương ước của bản.

Lễ cúng rừng, nét văn hoá tâm linh độc đáo

Căm Nung, hay lễ cúng rừng, là một trong ba lễ hội quan trọng nhất trong năm của người Lự ở Lai Châu - gồm Lễ cơm mới (Kin Khẩu Máy), Lễ cúng trâu (Mo Khoăn Khoai) và Lễ cúng rừng (Căm Nung).

Lễ Căm Nung được người Lự tổ chức 2 lần trong năm, một lần vào ngày 3 - 5/3, khi bắt đầu vào mùa vụ, và lần khác là khi mùa màng đã xong vào ngày 6 - 8/6 (theo âm lịch).

Lễ cúng rừng được tổ chức tại khu rừng thiêng của bản.

Với quan niệm núi rừng là linh hồn của vạn vật, bảo vệ, che chở cho con người tồn tại và phát triển, là nơi trú ngụ của các đấng siêu nhiên, người Lự tổ chức lễ cúng rừng để cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, bản làng yên bình, đời sống người dân ấm no, qua đó khẳng định sự hòa hợp của cộng đồng với thiên nhiên. Đồng thời, thông qua việc phân công công việc tổ chức lễ hội, mọi người thấy được vị trí của mình trong cộng đồng, cùng nhau làm việc, tăng tính kết nối trong cộng đồng thôn bản.

Thầy cúng Tao Văn Seng (bản Nà Khum, xã Bản Hon, huyện Tam Đường, Lai Châu) cho biết: Mỗi thôn bản đều có một khu rừng cấm, rừng thiêng của bản, nơi tổ chức lễ cúng rừng. Đây thường là một khu rừng tự nhiên gần bản, nơi có nhiều cây gỗ lớn, gần nguồn nước và thuận tiện tiến hành các nghi lễ. Phần quan trọng nhất của lễ cúng rừng là phần cúng được tổ chức ngày đầu tiên. Hai ngày tiếp theo là phần hội, diễn ra trong thôn bản. Đây là khoảng thời gian người dân giao lưu văn nghệ, chơi thể thao và các trò chơi dân gian…

Chuẩn bị mâm cơm cúng rừng

Lễ Căm Nung của người Lự có tính cộng đồng chặt chẽ, chu đáo và nhiều kiêng kỵ, từ việc chọn thầy cúng tới đồ tế lễ. Thực hiện nghi lễ là 5 thầy cúng, gồm 1 thầy cúng chính và 4 thầy phụ đều là nam giới, thường là những người mạnh khỏe, có uy tín trong cộng đồng. Để lựa chọn được những người trực tiếp cúng thần rừng, người dân sẽ cho mỗi người bốc một nhúm gạo, sau đó đếm, chọn 5 người có số hạt chẵn lớn nhất làm thầy cúng. Hình thức tuyển người này tiếng Lự gọi là “kiếp khẩu”, được lưu truyền từ nhiều thế hệ, nhằm đảm bảo tính công bằng mỗi khi cần tuyển lựa người có uy tín, đảm đương công việc mà cộng đồng giao phó. Việc lựa chọn thầy cúng được thực hiện trước vài ngày, sau đó thầy cúng chính sẽ tổ chức họp thôn bản, phân công công việc chuẩn bị cho từng gia đình, từng người tham gia.

Ngày làm lễ cúng, mỗi gia đình trong bản cử một người đàn ông tham gia làm lễ. Lễ bắt đầu từ khi mặt trời vừa lên và diễn ra không quá giờ ngọ. Sau giờ ngọ, những người tham gia lễ cúng sẽ tổ chức ăn cơm cỗ ngay tại rừng trước khi về nhà vào lúc xế chiều. Trong bữa cơm ấm áp tình làng nghĩa xóm tại khu rừng cấm (rừng thiêng) của bản sau lễ cúng, mọi người cùng trao đổi, trò chuyện về mùa vụ tới, cách bảo vệ, phát triển rừng và không vi phạm hương ước của bản.

Đồ cúng tế trong lễ cúng rừng là những sản vật do người dân trong bản tăng gia sản xuất và được chuẩn bị chu đáo như một con lợn đen, sáu con gà trống, rượu trắng, giấy bạc, giấy màu được cắt thành hình chim én, con bướm, chiếc thuyền cùng hương và một số thực phẩm khác. Các nhóm hộ trong bản được giao chuẩn bị trước những đồ cúng tế này.

Lễ cúng gồm 2 phần, lễ cúng sống và cúng chín, với những nghi thức thiêng liêng

Theo quan niệm của người Lự, chim én là sứ giả kết nối cõi thiên và cõi địa. Con bướm kết nối linh hồn người chết và người sống. Con thuyền thể hiện cho quá trình thiên di, định cư và sinh sống tiếp nối từ đời này sang đời khác. Trong quá trình chế biến đồ cúng tế, tuyệt đối không được dùng ớt làm gia vị, cơm không được nấu cháy, rượu không để bị khê thì mọi sự mới tốt lành. Trong những ngày diễn ra lễ hội, người dân trong bản không ai được chặt cây, đào đất, thả rông gia súc. Phụ nữ mang thai không được tham gia nghi lễ. Người tham gia lễ không mặc đồ trắng, không đi chân đất, không để đầu trần. Trong quá trình làm cỗ cúng thần rừng, sau khi cắt tiết gà, tiết lợn, một phần tiết sẽ được bôi lên các phên mắt cáo có cài cành cây xanh treo nơi đầu bản, treo xung quanh nơi làm lễ và trước hiên nhà để cảnh báo thời điểm kiêng người lạ ra vào bản.

Lễ cúng gồm 2 phần, lễ cúng sống và cúng chín, với những nghi thức thiêng liêng được thực hiện với 5 bệ thờ làm từ tre nứa đặt dưới gốc cây lớn. Sau lễ cúng sống, thầy cúng chính lấy một nhánh cây xanh vụt nhẹ lên lồng gà, lợn để báo thần linh những vật hiến tế đã sẵn sàng và còn sống. Tiếp theo, những người tham gia lễ sẽ giết gà, mổ lợn, làm cơm bày lên bệ thờ để thầy cúng chính cùng các thầy phụ làm lễ cúng chín. Lời bài cúng thường mang hàm ý cảm tạ đất trời, thần linh và đấng siêu nhiên đã bảo vệ người dân thoát khỏi điều xấu, cho mùa màng bội thu, người người no ấm và cầu mong mùa vụ sau cũng nhiều thắng lợi.

Anh Lò Văn Tinh, trưởng bản Nà Khum, cho biết: Sau khi hoàn tất việc cúng tế, những người tham gia lễ cúng sẽ cùng vui liên hoan ngay tại rừng và không quên chia phần cho những người trong gia đình không được trực tiếp tham gia như người già, trẻ nhỏ, phụ nữ... để tất cả mọi người trong bản đều được hưởng lộc của đất trời, thần linh. Buổi liên hoan kết thúc vào buổi chiều, những người đàn ông mang lộc về nhà cho người khác trong gia đình. Đây cũng là thời điểm bắt đầu phần hội vui trong bản.

Ngày hội cộng đồng

Trong hai ngày tiếp theo của Lễ Căm Nung, mọi người dân trong bản, từ trẻ nhỏ đến người già, nam thanh nữ tú đều sẽ mặc những bộ trang phục truyền thống đẹp nhất của dân tộc mình, cùng tham gia các trò chơi dân gian như: đi cà kheo, ném còn, đánh cầu lông gà, đẩy gậy, kéo co và giao lưu văn nghệ...

Đây là phần sôi động nhất, qua đó tạo không khí giao lưu, giao hữu kết nối người dân trong bản. Đây cũng là dịp để người Lự phô diễn nét đẹp trong nghệ thuật biểu diễn văn nghệ dân gian của dân tộc mình. Các cô gái trẻ xúng xính trong bộ trang phục đẹp nhất, cài trên đầu những bông hoa của núi rừng nhiều màu sắc, những cành lá nếp thoảng hương, cùng hát vang vũ khúc “Leo bo” trên nền điệu “Sáo đôi” truyền thống, ca ngợi cuộc sống ấm no, tình làng nghĩa xóm, nam nữ thông qua làn điệu hát giao duyên để tìm hiểu, hẹn hò.

Chơi đẩy gậy trong lễ hội Căm Nung

Ông Trần Mạnh Hùng, Phó Giám đốc Sở VH-TT&DL tỉnh Lai Châu, cho biết, việc tổ chức lễ Căm Nung phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Những năm gần đây, lễ Căm Nung còn lồng ghép yếu tố văn hóa mới, tiến bộ, phù hợp với nhu cầu hưởng thụ văn hóa và tâm linh của đồng bào, qua đó góp phần thúc đẩy phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, loại bỏ yếu tố lạc hậu, hủ tục không phù hợp trong đời sống cộng đồng, khơi dậy niềm tự hào về truyền thống dân tộc. Cùng với đó, lễ Căm Nung tạo điều kiện để các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, trò chơi dân gian của dân tộc Lự được bảo tồn, phát huy giá trị, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đa dạng, đậm đà bản sắc./.

Trên địa bàn tỉnh Lai Châu, người Lự cư trú tập trung tại các xã bản Hon, Nà Tăm, huyện Tam Đường; Nậm Tăm và một số xã vùng thấp của huyện Sìn Hồ. Cộng đồng người Lự hiện nay vẫn còn lưu giữ gần như nguyên vẹn nhiều nét đẹp văn hóa truyền thống trong trang phục, ẩm thực, ngôn ngữ, kiến trúc, âm nhạc, các lễ hội cộng đồng và tín ngưỡng.

 

 

Bình luận

    Chưa có bình luận